BỘ ĐỀ THI HỌC KÌ 1 NGỮ VĂN 7 – SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
Chào các em học sinh lớp 7! Dưới đây là ma trận đề thi, đề thi mẫu học kì 1 và đáp án hướng dẫn giải chi tiết chuẩn xác nhất bám sát theo chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7 – Kết nối tri thức với cuộc sống. Bài viết này giúp các em ôn tập đúng trọng tâm các bài học trong Học kì 1 (Bài 1 đến Bài 5) và rèn luyện kỹ năng làm bài đạt điểm tối đa.
I. MA TRẬN ĐỀ THI HỌC KÌ 1 NGỮ VĂN 7
Đề thi được xây dựng theo cấu trúc chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết hợp hình thức Tự luận và Trắc nghiệm khách quan với tỉ lệ điểm: Đọc hiểu (6,0 điểm) – Viết (4,0 điểm).
- 1. Phần Đọc hiểu (6,0 điểm):
- Nhận biết (2,0 điểm): Nhận biết thể loại, phương thức biểu đạt, các chi tiết nghệ thuật, từ loại (Phó từ, Số từ) hoặc biện pháp tu từ trong ngữ liệu.
- Thông hiểu (2,0 điểm): Hiểu nội dung đoạn trích, phân tích tác dụng của biện pháp tu từ, ý nghĩa của chi tiết nghệ thuật.
- Vận dụng (2,0 điểm): Rút ra thông điệp, bài học sống, viết đoạn văn ngắn liên hệ bản thân.
- 2. Phần Viết (4,0 điểm):
- Vận dụng cao (4,0 điểm): Viết bài văn phân tích đặc điểm một nhân vật văn học trong các tác phẩm thuộc bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống (Ví dụ: Thầy Đuysen trong “Người thầy đầu tiên”, hai anh em Mên và Mon trong “Bầy chim chìa vôi”,…).
II. ĐỀ THI HỌC KÌ 1 – NGỮ VĂN 7 (THỜI GIAN LÀM BÀI: 90 PHÚT)
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (6,0 ĐIỂM)
Đọc kỹ đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“[…] Hai đứa trẻ lưu luyến nhìn theo bóng những con chim chìa vôi đập cánh bay lên. Những cánh chim bé nhỏ và ướt ướt giang rộng ra, bứt khỏi dòng nước khổng lồ bay lên không trung. Đến một độ cao nào đó, cành chim của chúng mới thật sự bình tĩnh và đập đều đặn. Mặt trời ngoi lên từ phía chân trời bừng sáng. Hai đứa trẻ vẫn đứng ngắm nhìn bầy chim chìa vôi non cất cánh. Chúng không nói gì, nhưng trong lòng trào dâng một cảm xúc khó tả. Cả Mên và Mon đều thấy mắt mình ướt ướt từ lúc nào…”
(Trích “Bầy chim chìa vôi” – Nguyễn Quang Thiều, Sách giáo khoa Ngữ văn 7 Kết nối tri thức với cuộc sống, Tập 1)
Câu 1 (0,5 điểm): Đoạn trích trên được viết theo phương thức biểu đạt chính nào?
Câu 2 (0,5 điểm): Xác định 01 phó từ được sử dụng trong câu văn: “Đến một độ cao nào đó, cành chim của chúng mới thật sự bình tĩnh và đập đều đặn.”
Câu 3 (1,0 điểm): Trong đoạn trích, chi tiết nào thể hiện cảm xúc của hai anh em Mên và Mon khi chứng kiến bầy chim chìa vôi non cất cánh an toàn?
Câu 4 (2,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong câu: “Mặt trời ngoi lên từ phía chân trời bừng sáng.”
Câu 5 (2,0 điểm): Qua câu chuyện bầy chim chìa vôi bay lên trong mưa bão, em rút ra được bài học hoặc thông điệp ý nghĩa gì về tình yêu thương đối với tự nhiên và vạn vật xung quanh?
PHẦN II: VIẾT (4,0 ĐIỂM)
Hãy viết một bài văn (khoảng 400 đến 500 chữ) phân tích đặc điểm nhân vật thầy Đuysen trong tác phẩm “Người thầy đầu tiên” (Xơ-gây Ai-tơ-ma-tốp) mà em đã được học trong chương trình Ngữ văn 7 – Tập 1 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống).
III. ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (6,0 ĐIỂM)
Câu 1 (0,5 điểm):
- Phương pháp: Căn cứ vào mục đích giao tiếp và đặc trưng ngôn ngữ của đoạn trích.
- Đáp án chuẩn: Phương thức biểu đạt chính là Tự sự (kết hợp miêu tả và biểu cảm).
Câu 2 (0,5 điểm):
- Phương pháp: Vận dụng kiến thức bài “Phó từ” (Trang 18 – SGK Ngữ văn 7 Tập 1). Phó từ là những từ chuyên đi kèm động từ, tính từ để bổ sung ý nghĩa.
- Đáp án chuẩn: Học sinh chọn một trong các phó từ sau: “đã”, “mới” (bổ sung ý nghĩa thời gian/tiến trình).
Câu 3 (1,0 điểm):
- Phương pháp: Đọc kĩ đoạn trích và tìm chi tiết diễn tả tâm trạng hai nhân vật.
- Đáp án chuẩn: Các chi tiết thể hiện cảm xúc của Mên và Mon:
- “Hai đứa trẻ lưu luyến nhìn theo…”
- “Chúng không nói gì, nhưng trong lòng trào dâng một cảm xúc khó tả.”
- “Cả Mên và Mon đều thấy mắt mình ướt ướt từ lúc nào…”
Câu 4 (2,0 điểm):
- Phương pháp: Nhận biết từ ngữ chỉ hành động con người áp dụng cho sự vật, sau đó phân tích hiệu quả nghệ thuật.
- Đáp án chuẩn:
- Biện pháp tu từ: Nhân hóa qua từ hành động “ngoi lên” (dành cho “mặt trời”). (1,0 điểm)
- Tác dụng: Làm cho hình ảnh mặt trời trở nên sống động, có tâm trạng, sức sống như một con người đang vươn dậy. Đồng thời làm nền cho khoảnh khắc bầy chim cất cánh trở nên rực rỡ, thiêng liêng và đầy hy vọng. (1,0 điểm)
Câu 5 (2,0 điểm):
- Phương pháp: Nêu suy nghĩ cá nhân ngắn gọn, chân thành, có tính giáo dục.
- Gợi ý đáp án: Học sinh có thể trình bày theo các ý chính sau:
- Tình yêu thương, lòng trắc ẩn đối với loài vật nhỏ bé trong thiên nhiên.
- Ý thức bảo vệ môi trường, trân trọng sự sống của mọi sinh linh xung quanh chúng ta.
- Sự trưởng thành trong tâm hồn đến từ những hành động nhỏ bé nhưng chứa đựng tình người sâu sắc.
PHẦN II: VIẾT (4,0 ĐIỂM)
DÀN Ý CHI TIẾT HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
- Mở bài (0,5 điểm):
- Giới thiệu tác giả Xơ-gây Ai-tơ-ma-tốp và tác phẩm “Người thầy đầu tiên” (Bài 3: Cánh cửa mở ra rộng lớn).
- Giới thiệu nhân vật thầy Đuysen – người thầy giàu lòng nhân ái, tận tụy với học sinh nghèo.
- Thân bài (3,0 điểm):
- Đặc điểm 1: Lòng yêu thương học trò tận tụy, bao la.
- Thầy tự tay sửa sang ngôi trường cũ trên ngọn đồi để đón các em nhỏ đến trường.
- Thầy không quản ngại khó khăn, bế từng em nhỏ qua dòng nước suối bão tuyết lạnh giá.
- Đặc điểm 2: Có niềm tin mãnh liệt vào tương lai và giáo dục.
- Thầy gieo vào lòng trẻ thơ niềm tin về một tương lai tươi sáng qua việc học chữ.
- Hình ảnh hai cây phong thầy trồng thể hiện ước mơ, hy vọng thầy gửi gắm vào thế hệ trẻ (đặc biệt là cô học trò An-ty-nai).
- Đặc điểm 3: Nghệ thuật khắc họa nhân vật của tác giả.
- Nhân vật được thể hiện qua góc nhìn xúc động của An-ty-nai và họa sĩ.
- Hành động, lời nói chân thành, giàu tính cảm xúc và đầy nghị lực.
- Đặc điểm 1: Lòng yêu thương học trò tận tụy, bao la.
- Kết bài (0,5 điểm):
- Khẳng định lại vẻ đẹp cao quý của thầy Đuysen.
- Rút ra bài học về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tôn sư trọng đạo của bản thân.
BÀI VĂN MẪU THAM KHẢO:
Trong kho tàng văn học thế giới, hình ảnh người thầy luôn là đề tài đẹp đẽ và thiêng liêng. Qua văn bản “Người thầy đầu tiên” của nhà văn Xơ-gây Ai-tơ-ma-tốp (Ngữ văn 7 – Kết nối tri thức với cuộc sống), hình ảnh thầy Đuysen hiện lên vô cùng cảm động, trở thành biểu tượng cao đẹp cho lòng yêu thương và sự tận tụy với sự nghiệp trồng người.
Thầy Đuysen hiện lên trước hết là một người giàu lòng nhân ái và tấm lòng vì học sinh thân yêu. Ở vùng quê nghèo An-ta-y còn nhiều lạc hậu, thầy Đuysen đã một mình dọn dẹp ngôi trường cũ, tự tay làm bếp sưởi, lót rơm làm chỗ ngồi cho học trò. Hình ảnh xúc động nhất chính là khi mùa đông giá lạnh đến, dòng nước suối buốt giá nhưng thầy vẫn không ngần ngại ẵm từng em nhỏ qua suối để các em đến lớp không bị ướt. Hành động ấy xuất phát từ một trái tim bao la, coi học trò như chính con em ruột thịt của mình.
Không chỉ tận tụy, thầy Đuysen còn là người truyền cảm hứng và gieo mầm hy vọng cho thế hệ trẻ. Thầy đã nhìn thấy tố chất và tương lai của cô bé An-ty-nai – một mầm non đầy nghị lực nhưng chịu nhiều bất hạnh. Thầy trồng hai cây phong trên ngọn đồi cùng An-ty-nai như một biểu tượng của ước mơ, lời nhắn nhủ em hãy vươn xa, bay cao đến những vùng trời kiến thức mới.
Bằng việc miêu tả nhân vật qua lời kể chân thành của An-ty-nai, nhà văn Ai-tơ-ma-tốp đã khắc họa chân thực và sâu sắc hình ảnh thầy Đuysen. Thầy không chỉ dạy chữ mà còn dạy làm người, thắp sáng con đường tương lai cho những đứa trẻ nghèo vùng núi.
Tóm lại, thầy Đuysen là hiện thân của tình yêu thương và trách nhiệm cao cả. Tác phẩm giúp em thêm trân trọng, kính trọng những người thầy, người cô đã và đang ngày đêm tận tụy vì sự nghiệp giáo dục.